SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
4
6
3
0
0
1
Tin chuyên ngành Thứ Hai, 12/03/2012, 08:40

KCN, KCX nước ta: 20 năm xây dựng và phát triển

Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, các khu công nghiệp, khu chế xuất (sau đây viết tắt là KCN) ở nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thành quả đó đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng mô hình KCN ngay từ giai đoạn đầu đổi mới như là một giải pháp quan trọng để thu hút đầu tư trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Một số kết quả đạt được

Trong quá trình xây dựng và phát triển, các KCN đã đạt được một số kết quả sau đây:

Một, các KCN được hình thành và phát triển theo một quy hoạch thống nhất được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Tính đến nay, cả nước đã có 267 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 72.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên.

Các KCN được quy hoạch và phân bố trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế địa kinh tế, tiềm năng của các địa phương, vùng kinh tế, trong đó tập trung chủ yếu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm, gồm Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 124 KCN, chiếm gần 48%, Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 52 KCN, chiếm 20%; Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 23 KCN, chiếm 10%.

Theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) và Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tổng diện tích đất KCN đến năm 2015 dự kiến là 130.000 ha và đến năm 2020 dự kiến là 200.000 ha.

 

Hai, hệ thống kết cấu hạ tầng các KCN ngày dần được hoàn thiện, góp phần vào đổi mới hạ tầng công nghiệp và đô thị của địa phương

Các KCN đã thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Đến nay, tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng của 267 KCN vào khoảng 9 tỷ USD, trong đó có 31 KCN do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 2 tỷ USD. Các KCN còn lại do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư 7 tỷ USD. Trong số 267 KCN đã thành lập, có 180 KCN đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng ký là 5 tỷ USD; còn lại 87 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Một số KCN đã xây dựng mô hình hiện đại gắn với phát triển khu đô thị, khu dịch vụ, giáo dục... như KCN Tân Tạo (Long An), KCN Quế Võ (Bắc Ninh).

Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng có những chính sách quan tâm, hỗ trợ một phần vốn để hoàn thiện kết cấu hạ tầng KCN tại các địa bàn có điều kiện khó khăn, từ đó tạo mặt bằng thu hút đầu tư , nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế và lao động công nghiệp của địa phương.

Ba, thu hút được một lượng vốn đầu tư lớn trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Quán triệt chủ trương phát triển KCN như là một giải pháp quan trọng để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Đến cuối tháng 11/2011, các KCN trong cả nước đã thu hút được khoảng 4.500 dự án đầu tư trong nước (DDI) với tổng vốn đăng ký hơn 360.000 tỷ đồng, vốn thực hiện đạt khoảng 180.000 tỷ đồng và trên 4.000 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt gần 60 tỷ USD (chiếm gần 40% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam), vốn thực hiện đạt gần 24 tỷ USD. 

Tỷ suất đầu tư vốn các dự án DDI và FDI/1ha đất công nghiệp đã cho thuê ở mức 15,97 tỷ đồng và 2,55 triệu USD. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỷ suất đầu tư trung bình cao nhất cả nước lần lượt là 16,97 và 22,05 tỷ đồng/1ha đất công nghiệp đối với dự án DDI; 3,29 và 3,22 triệu USD/1ha đất công nghiệp đối với dự án FDI.

Bốn, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế, giải quyết việc làm của địa phương và cả nước

Chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN không ngừng tăng lên. Những năm gần đây, doanh thu của các doanh nghiệp KCN (kể cả trong và ngoài nước) đạt 38-40 tỷ USD; giá trị xuất khẩu đạt khoảng 20-22 tỷ USD, giá trị nhập khẩu đạt khoảng 18-20 tỷ USD; nộp ngân sách đạt khoảng 22.000-24.000 tỷ đồng, đóng góp trên 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, 25% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu; giải quyết việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp.

Cơ chế, chính sách đối với người lao động đã có nhiều cải thiện. Nhiều địa phương, doanh nghiệp đã phối hợp dành quỹ đất của KCN để xây dựng khu nhà ở cho người lao động KCN, điển hình như KCN Long Hậu (Long An), Công ty TNHH Điện tử Samsung VN - KCN Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh), Công ty Formosa - KCN Nhơn Trạch 3 (tỉnh Đồng Nai)...

Năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường

Các KCN đã quan tâm nhiều hơn tới công tác bảo vệ môi trường, trong tổng số KCN đã vận hành có 105 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 60% tổng số KCN đã vận hành và hơn 30 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung.

So với những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỷ lệ các KCN có công trình xử lý nước thải tập trung đi vào vận hành đã tăng lên đáng kể - khoảng 25% so với năm 2006. Một số vùng, các KCN có nhà máy xử lý nước thải cũng như các doanh nghiệp đấu nối vào nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt tỷ lệ cao như vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ.

Sáu, các cơ chế, chính sách về KCN từng bước được hoàn thiện trong quá trình phát triển KCN

Năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX, KKT đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác xây dựng và hoàn thiện chính sách về KCN, tạo khung khổ pháp lý thuận lợi cho các địa phương, doanh nghiệp hoạt động. Nghị định đã quy định đầy đủ, rõ ràng về thành lập, hoạt động của KCN cũng như chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý KCN ở cấp địa phương... Từ đó, hình thành và triển khai có hiệu quả mô hình quản lý theo hướng một cửa, một đầu mối tại Ban Quản lý KCN.

 

Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong thời gian qua, hoạt động của các KCN, KKT còn bộc lộ một số mặt hạn chế, khó khăn cần tiếp tục nghiên cứu, khắc phục trong thời gian tới. Cụ thể là:

Một, chất lượng công tác quy hoạch KCN còn chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển

Quy hoạch KCN còn chưa thực sự thống nhất với quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, sử dụng đất, đô thị, kết cấu hạ tầng và chưa tính toán toàn diện khả năng, điều kiện, tiềm năng, lợi thế riêng có của địa phương và của vùng. Việc triển khai quy hoạch KCN đã được phê duyệt của các địa phương còn hạn chế. Việc bổ sung quy hoạch, thành lập KCN của một số địa phương đôi khi còn nóng vội, chưa hội tụ đủ các điều kiện quy hoạch và còn mang tính cục bộ, địa phương.

Hai, cơ chế chính sách về KCN vẫn còn một số vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh

Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý KCN trong một số lĩnh vực còn chưa được thực hiện đầy đủ, nhất quán trên cả nước do có sự không thống nhất với các quy định của pháp luật chuyên ngành, chưa được các bộ, ngành hướng dẫn cụ thể hoặc chủ trương phân cấp, ủy quyền chưa được địa phương quán triệt và thực hiện, đặc biệt là lĩnh vực thanh tra, môi trường, lao động. 

Nhiều địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành của địa phương trong quản lý nhà nước về KCN. Tuy nhiên, việc phối hợp trong thực tế còn chưa hiệu quả.

Về chính sách ưu đãi đối với KCN: Các chính sách về thuế còn chưa ổn định, mức ưu đãi đối với dự án đầu tư vào KCN và dự án mở rộng còn nhiều điểm chưa hợp lý, ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn.

Ba, hàm lượng công nghệ trong cơ cấu đầu tư chưa cao

Các địa phương và chủ đầu tư chưa thực sự chú trọng tới cơ cấu ngành nghề, công nghệ của các dự án đầu tư vào KCN. Do đó, cơ cấu đầu tư trong các KCN chưa thực sự hợp lý, hàm lượng công nghệ trong các KCN còn hạn chế, tính liên kết ngành (clustering) của các KCN chưa chặt chẽ.

Bốn, công tác đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn, vướng mắc

Các quy định pháp luật về đất đai, đền bù còn chưa rõ ràng và ổn định cùng với tình trạng lạm phát cao đã đẩy giá đất tăng lên làm cho chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng tăng cao, kéo theo giá cho thuê lại đất công nghiệp cũng tăng, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư vào các KCN, giảm tính cạnh tranh quốc gia của KCN. Đồng thời, những vướng mắc này cũng là nguyên nhân làm cho tiến độ giải phóng mặt bằng thường kéo dài, chậm tiến độ.

Hệ thống kết cấu hạ tầng của một số KCN, kể cả những KCN đã đi vào vận hành còn chưa được đầu tư, xây dựng một cách đồng bộ; các công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, nước chưa đồng bộ với các công trình tiện ích công cộng; hạ tầng trong hàng rào chưa gắn kết với hạ tầng ngoài hàng rào.

Năm, công tác bảo vệ môi trường KCN còn bất cập

Vấn đề bảo vệ môi trường KCN tuy đã được cải thiện, song vẫn còn tồn tại một số doanh nghiệp KCN chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về môi trường. Việc phối hợp kiểm tra, giám sát bảo vệ môi trường KCN của các cơ quan nhà nước chưa thật chặt chẽ.

Mặc dù, số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các Ban Quản lý các KCN, việc vận hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa được triển khai một cách chặt chẽ, chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao. Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp còn thấp.  

Sáu, lao động làm việc trong KCN vẫn còn gặp khó khăn

Mặc dù tiền lương bình quân của người lao động trong các KCN qua các năm đều tăng, nhưng so với mặt bằng tiền lương chung của các doanh nghiệp trong cả nước, tiền lương của họ vẫn còn thấp. Gần đây, do giá cả các hàng hoá thiết yếu tăng nhanh, làm cho thu nhập thực tế của người lao động trong các KCN không những không được cải thiện mà còn giảm sút.

Các chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân (về miễn, giảm tiền thuê đất, về thuế thu nhập doanh nghiệp...) vẫn chưa đủ mạnh, khó thực hiện nên đa số các doanh nghiệp còn chưa quan tâm đến việc đầu tư xây nhà ở cho người lao động trong KCN.

 

Định hướng phát triển KCN trong thời gian tới

Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó khăn, vướng mắc, cản trở đối với sự phát triển của các KCN, trong thời gian tới, các KCN cần xây dựng và phát triển theo một số định hướng cơ bản sau:

Một, nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch KCN

Gắn kết hơn nữa việc xây dựng, triển khai quy hoạch KCN với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch nhà ở và các quy hoạch ngành.

Hai, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng KCN

Nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng xây dựng một cách đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật với hệ thống tiện ích công cộng phục vụ cho KCN, gắn kết cấu hạ tầng trong hàng rào và ngoài hàng rào KCN.

Huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động và các công trình tiện nghi, tiện ích cho KCN; có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ và phát huy tính chủ động của địa phương trong việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội phục vụ cho phát triển kết cấu hạ tầng KCN.

Ba, cải thiện chất lượng thu hút đầu tư vào KCN

Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường. Tăng cường tính liên kết ngành trong phát triển KCN nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của KCN, dần dần hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN đồng thời tăng tỷ trọng giá trị gia tăng ngành công nghiệp trong tổng giá trị gia tăng của địa phương.

Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến đầu tư thống nhất trên phạm vi cả nước. Thực hiện xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung ưu tiên một số đối tác lớn, quan trọng và những ngành nghề, lĩnh vực lợi thế của Việt Nam. 

Bốn, kiểm soát chặt chẽ vấn đề môi trường

Tăng cường thanh, kiểm tra việc thi hành pháp luật về môi trường trong các KCN gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm. Đồng thời, xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

Nâng cao năng lực quản lý về môi trường cho các Ban Quản lý các KCN cả về nhân lực và trang thiết bị để tạo điều kiện cho các Ban Quản lý chủ động hơn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường KCN.

Năm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm cải thiện điều kiện lao động, hỗ trợ đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong KCN phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.

Chú trọng, đào tạo nghề cho thanh niên khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn bị thu hồi đất làm KCN; xây dựng chiến lược tổng thế quốc gia về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa; xây dựng đội ngũ lao động có tác phong công nghiệp, có trình độ, kỹ năng, kỷ luật lao động ngày càng được nâng cao. 

Sáu, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN

Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách hiện hành về KCN theo hướng tăng cường phân cấp, ủy quyền từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương và địa phương và cơ chế thanh tra, kiểm tra thường xuyên với các chế tài xử phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm.

Kiện toàn hơn nữa bộ máy quản lý nhà nước về KCN từ Trung ương đến địa phương.

Để thực hiện được thành công các định hướng phát triển nêu trên, điều kiện quan trọng và cần thiết là phải nâng cao nhận thức của các cơ quan nhà nước về vai trò, vị trí của các KCN trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thống nhất chủ trương tăng cường phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước KCN trên các lĩnh vực nhằm xây dựng Ban Quản lý KCN trở thành một cơ quan “đầu mối, tại chỗ” ở địa phương quản lý nhà nước KCN theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. 

Ngoài ra, các Bộ, ngành khi tổ chức xây dựng, điều chỉnh, bổ sung các văn bản pháp luật chuyên ngành phải trên cơ sở thống nhất với pháp luật về KCN tránh tình trạng chồng chéo giữa các văn bản pháp luật; xây dựng chính sách phát triển KCN phải đặt lợi ích của quốc gia, vì lợi ích chung phát triển KCN phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội quốc gia lên trên lợi ích cục bộ của địa phương, của các bộ, ngành.

TS. Nguyễn Văn Trung - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nguồn: Website Khu công nghiệp Việt Nam 


Số lượt người xem: 4938 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày